Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Ngày đăng: 29/03/2022 532 lượt xem

Thông qua công tác kiểm sát xét xử giám đốc thẩm đối với Bản án số 27/2019/DS-PT, ngày 11/6/2019 của TAND tỉnh ĐN giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là ông Phạm Xuân H, bà Nguyễn Thị N với bị đơn là ông Phạm Đình P đã có hiệu lực pháp luật, VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thấy cần thông báo để rút kinh nghiệm như sau:

1. Nội dung vụ án:

Năm 2001, ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (vợ chồng ông H) khai hoang khoảng 15 ha đất tại tiểu khu 359 thuộc địa bàn xã QT, huyện TĐ, tỉnh ĐN. Sau đó, vợ chồng ông H trồng cây ngắn ngày và xin UBND xã QB xác nhận việc khai hoang (Phó Chủ tịch xã QB có xác nhận), tại thời điểm xác nhận không xác định rõ đất thuộc địa bàn xã nào quản lý, sau này mới biết đất khai hoang thuộc địa phận xã QT. Năm 2009, vợ chồng ông H cho ông Phan Z thuê đất để trồng mỳ, năm 2013 thì trả lại đất. Sau đó, vợ chồng ông H tiếp tục cho ông Lê Ngọc C thuê. Năm 2015, vợ chồng ông H phát hiện phần đất cho ông C thuê đang bị ông Phạm Đình P lấn chiếm toàn bộ. Ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Đình P trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm.

Ông Phạm Đình P không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H với lý do phần đất tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng lại của ông Hoàng Văn Đ và ông Tăng Phúc K vào năm 2011 và năm 2013. Sau đó, ông chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Văn V một phần vào năm 2011 và chuyển nhượng cho các ông Lý Vân T, ông Bàn Phúc K, ông Triệu Chòi G và ông Hà Văn Y một phần vào năm 2016, phần còn lại ông canh tác.

Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện TĐ trình bày: Diện tích đất tranh chấp trước đây thuộc Công ty Cổ phần 59 quản lý. Ngày 23/6/2018, UBND tỉnh ĐN ban hành Quyết định số 1041/QĐ-UBND giao cho UBND huyện TĐ quản lý, bố trí sử dụng theo quy định của pháp luật.

Ông Hoàng Văn V, ông Lý Văn T, ông Bàn Phúc K, ông Triệu Chòi G và ông Hà Văn Y trình bày: Diện tích đất tranh chấp do nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đình P vào năm 2016. Vì vậy, các ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H.

2. Quá trình giải quyết vụ án

Tại Bản án số 15/2018/DS-ST, ngày 28/12/2018 của TAND huyện TĐ, tỉnh ĐN (Bản án sơ thẩm), đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N đối với ông Phạm Đình P về diện tích đất là 160.817,4m2.

- Buộc ông Phạm Đình P phải tháo dỡ 01 lều diện tích 5,5m x 4,5m mái lợp tole, vách tole, nền đất 01 chuồng gà diện tích 3m x 3m mái lợp tole, vách lồ ô, nền đất; 01 nhà gỗ diện tích 5,5m x 7m mái lợp tole, vách gỗ, nền đất, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N 02 lô đất như sau: Lô 01 với diện tích đất là 13.564,9m2; Lô 02 với diện tích đất là 30.941m².

- Buộc ông Lý Vân T phải tháo dỡ 01 bản lều diện tích 5,5m x 7,5m, vách lồ ô (tre), mái lợp tranh, nền đất; 01 chuồng gà diện tích 2m x 2m vách lồ ô (tre), mái lợp tranh, nền đất, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (nhận sang nhượng của Phạm Đình P) là 10.519,2m2,

- Buộc ông Bàn Phúc K phải thảo dỡ 01 lản lều diện tích 6,5m x 7,3m, vách lồ ô (tre), mái lợp tole, nền đất, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (nhận sang nhượng của Phạm Đình P), là 11.221,8m².

- Buộc ông Triệu Chòi G phải thảo dỡ 01 lán (lều) diện tích 9m x 6m, vách lồ ô (tre), mái lợp tole, nền đất, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (nhận sang nhượng của Phạm Đình P) là 9.835,7m2.

- Buộc ông Hà Văn Y phải tháo dỡ 01 nhà gỗ diện tích 5m x 12,5m mái lợp tole, nền xi măng, vách gỗ; 01 lán lều, mái lợp bạt, vách gỗ, nền đất, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (nhận sang nhượng của Phạm Đình P) là 47.613,2m2. Giao lại cho bà N, ông Hoa 01 bể nước kích thước 2m x 2m x 1,5m xây gạch nền xi măng không có nắp đậy; 01 nhà tắm diện tích 2m x 2m tường xây gạch móng xây gạch nền lát gạch men mái lợp tole.

- Buộc ông Hoàng Văn V phải tháo dỡ 01 nhà khung sắt, nền xi măng, vách xây tường, mái lợp tole, để trả lại diện tích đất cho ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N (nhận sang nhượng của Phạm Đình P) là 37.121,6m2. Tất cả diện tích đất nói trên tọa lạc tại, xã QT, huyện TĐ, tỉnh ĐN (có sơ đồ vị trí thửa đất đính kèm).

Tạm giao đất cho ông Phạm Xuân H bà Nguyễn Thị N canh tác, sử dụng diện tích đất 160.817,4m2 và tài sản trên đất.

Buộc ông H, bà N phải trả cho ông Phạm Đình P số tiền 95.068.000 đồng; trả cho ông Lý Vân T số tiền 40.194.000 đồng; trả cho ông Bàn Phúc K số tiền 20.033.000 đồng, trả ông Triệu Chòi G số tiền 28.510.000 đồng; trả cho ông Hà Văn Y số tiền 114.423.600 đồng (cây trồng, nhà tắm và bể nước); trả ông Hoàng Văn V số tiền 68.730.000 đồng. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về các vấn đề liên quan khác.

Ngày 07/01/2018, ông Phạm Đình P kháng cáo Bản án sơ thẩm.

Tại Bản án số 27/2019/DS-PT, ngày 11/6/2019 của TAND tỉnh ĐN (Bản án phúc thẩm), đã quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đình P. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Ông Phạm Đình P có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 239/2020/DS-GĐT ngày 03/11/2020 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 04/QĐKNGĐT-VKS-DS, ngày 04/12/2019 của Viện trưởng VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc hủy Bản án phúc thẩm và hủy Bản án sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án cho TAND huyện TĐ xét xử sơ thẩm lại.

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm

Ông Phạm Xuân H và bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ông Phạm Đình P trả lại 160.817,4m2 đất, tọa lạc tại lô 18 khoảnh 1 tiểu khu 1534, lô 523 tiểu khu 1522, xã QT, huyện TĐ, tỉnh ĐN. Trong tổng diện tích đất trên, năm 2016 ông Phúc đã chuyển nhượng bằng giấy tay cho các ông Lý Vân T 10.519,2m2, ông Bàn Phúc K 11.221,8m2, ông Triệu Chòi G 9.835,7m2, ông Hà Văn Y 47.613,2m2 và ông Hoàng Văn V 37.121,6m2, còn lại 44.505,9m2 ông P đang sử dụng. Các phần đất này chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Ông H, bà N trình bày đất tranh chấp do gia đình khai hoang vào năm 2001, còn ông P trình bày đất tranh chấp do nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn Đ và ông Tăng Phúc K vào năm 2011 và năm 2013 bằng giấy tay. Tuy nhiên, theo Kết quả xác minh của Công an huyện TĐ và Công văn số 69/VPĐK ngày 22/6/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện TĐ thể hiện phần đất tranh chấp thuộc đất của Công ty Cổ phần 59 thuê của Nhà nước để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp theo Quyết định số 566/QĐ-UBND, ngày 24/4/2009 của UBND tỉnh ĐN. Quá trình thực hiện dự án, các hộ dân đã lấn chiếm diện tích đất này để canh tác, trong đó có hộ của ông H và ông P. Đến ngày 23/6/2017, UBND tỉnh ĐN ban hành Quyết định số 1041/QĐ-UBND giao về cho UBND huyện TĐ quản lý, bố trí sử dụng. Như vậy, có căn cứ xác định đất tranh chấp do các hộ dân lấn chiếm, diện tích đất tranh chấp đã được UBND tỉnh ĐN giao về cho UBND huyện TĐ quản lý, bố trí sử dụng.

Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ diện tích đất tranh chấp có thuộc diện đất công do các đương sự lấn chiếm để sử dụng, canh tác hay không? Ý kiến của UBND về việc những người đang canh tác, sử dụng đất cũng như tài sản trên đất như thế nào? Có vi phạm quy hoạch hoặc có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất không? Trường hợp UBND xác định những người đang canh tác, sử dụng đất đó là hợp pháp, việc sử dụng đất không vi phạm quy hoạch và có thể xem xét được giao quyền sử dụng đất thì Tòa án giải quyết tranh chấp đất và tài sản gắn liền với đất, đồng thời phải xác định ranh giới và tạm giao quyền sử dụng đất cho đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp UBND cấp có thẩm quyền cho biết rõ việc sử dụng đất là không hợp pháp, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp đối với tài sản trên đất.

Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm chưa làm rõ những vấn nêu trên, đồng thời chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà N, tạm giao 160.817,4m2 cho ông H, bà N quản lý, sử dụng là thu thập chứng cứ và chứng minh chưa đầy đủ, giải quyết vụ án không bảo đảm căn cứ pháp luật.

TL (tổng hợp)
19-05-2022
71 lượt xem
Nội dung vụ án: Bà Huỳnh Thị Kim N vay của bà Nguyễn Thị M với tổng số tiền 970.000.000 đồng. Cụ thể: ngày 05/9/2016 vay 500.000.000đ với lãi suất 3%/tháng, ngày 13/12/2016 vay 470.000.000đ với lãi suất 6%/tháng. Đến ngày 02/3/2017 ông Lê Ngọc C là chồng bà N viết giấy mượn tiền để xác nhận số nợ trên. Bà M khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà N ông C trả cho bà số tiền nợ gốc là 970.000.000 đồng với lãi suất 1,1%/tháng.
12-05-2022
123 lượt xem
Việc xác định thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong thi hành án hình sự còn một số vướng mắc trong thực tiễn, đặc biệt là đối với các quyết định về tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh... Vì vậy, một số đơn vị, địa phương còn lúng túng, chưa thực sự chú trọng phát hiện vi phạm để ban hành kháng nghị.
25-04-2022
279 lượt xem
Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm đối với vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là cụ ông Trần Tấn L và cụ bà Trần Thị T với bị đơn là bà Trần Thị H xảy ra tại huyện ĐD, tỉnh CM. VKSND tối cao (Vụ 9) thấy cần thông báo rút kinh nghiệm về những thiếu sót, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án với những nội dung như sau:
19-04-2022
380 lượt xem
Biên bản điều tra là văn bản tố tụng được lập theo Điều 133, Điều 178 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS). Đây là loại văn bản ghi nhận, mô tả lại quá trình tiến hành và kết quả các hoạt động điều tra nhất định đã tiến hành như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, thực nghiệm điều tra...
08-04-2022
534 lượt xem
Thông qua công tác kiểm sát xét xử giám đốc thẩm đối với Bản án số 102/2018/DS-PT, ngày 01/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố CT giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn là bà Trần Thị Thu N với bị đơn bà Nguyễn Thu T đã có hiệu lực pháp luật, VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh thấy cần thông báo để rút kinh nghiệm như sau:
31-03-2022
555 lượt xem
Qua một số ví dụ cụ thể về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã bị kháng nghị giám đốc thẩm, tác giả rút ra một số lưu ý cho Kiểm sát viên: Nắm chắc quy định tại các điều 51, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành; xác định đúng tính chất, mức độ vi phạm để đề xuất kháng nghị hoặc kiến nghị phù hợp…
Thêm mới văn bản đi nội bộ

Thêm mới văn bản đi nội bộ

Liên kết Website